- Ăn mặn - Ăn chay

Đối với sinh vật trên toàn thế giới, nói chung và đặc biệt loài người, nói riêng, việc ăn uống là vấn đề quan trọng hàng đầu.
"Phật có nói điều gì đều là vô lượng phương tiện vì tất cả chúng sanh ngu tối, căn cơ thấp kém chẳng tỏ nghĩa lý sâu mầu, nên mới mượn việc thế gian hữu vi để mà thí dụ. Nếu chẳng lo tu hạnh ở trong, chỉ chạy ra ngoài mà cầu hy vọng được phước thì thật vô lý.
Nói chùa cũng như nói nơi thanh tịnh. Nếu dứt trừ ba độc, thường tịnh sáu căn, thân tâm rỗng lặng, trong ngoài thanh tịnh, đó là nghĩa cất chùa.
Còn nói đúc vẽ hình tượng là nói tất cả chúng sanh mong cầu đạo quả; các hạnh giác để tu là phỏng theo chân dung diệu tướng của Như Lai, chớ đâu nói chuyện hữu vi vật chất! Cho nên người cầu giải thoát phải lấy thân làm lò, dung pháp làm lửa, dùng trí huệ làm thợ khéo, ba tụ tịnh giới sáu độ là khuôn. Ung đúc chơn như tánh Phật trong thân cho vào khuông giới luật.
Còn nghĩa thắp hương cũng vậy; là thứ hương Chánh pháp vô vi, xông lên để tẩy sạch các uế nghiệp ác vô minh, hết thảy đều tiêu diệt. Hương chánh pháp có mấy thứ: Một là hương Giới, nghĩa là ý nói hay dứt các ác, hay tu các điều thiện. Hai là hương Định, nghĩa là tin sâu Đại thừatâm không thối chuyển. Ba là hương Huệ, là thường quán sát trở vào trong tự thân tâm. Bốn là hương Giải thoát, là dứt hết cả vô minh trói buộc. Năm là hương Giải thoát tri kiến, là xét xoi thường tỏ, thông suốt không ngại. Năm thứ hương như thế là hương Tối thượngthế gian không sánh được. Phật ở thế gian bảo các đồ đệ dùng lửa trí huệ đốt thứ hương vô giá này để cúng dường mười phương chư PhậtChúng sanh ngày nay chẳng hiểu nghĩa chơn thật của Như Lai, chỉ dùng lửa ngoài mà thắp các hương vật chất thế gian để mong cầu phước báo làm kết quả.
Còn nghĩa rãi hoa cũng vậy, là nói công đức đem Chánh pháp mà giảng dạy lợi ích chúng sanhthấm nhuần khắp tánh Chơn Nhưbố thí trang nghiêm. Thứ hoa công đức nầy Phật thường khen ngợi, cứu cánh hằng còn không bao giờ héo tàn. Nếu ai rải hoa như thế sẽ được phước báo vô lượng. Nếu nói Phật dạy chúng sanh cắt xén bông hoa, tổn thương thảo mộc cho được hoa để rải thì thật là vô lý. Vì sao thế? Vì người giữ giới thanh tịnh thì tất cả sum la vạn tượng trong trời đất cũng không xúc phạm. Khi lầm phạm còn có ăn năn huống chi là dạy cố phá tịnh giớitổn thương vạn vật để cầu phước báo; muốn lợi lại thành hại, há có như thế sao?
Lại nữa, nói luôn luôn đốt đèn sáng là ý nói cái tâm Chánh giác tỏ suốt ví cũng như đèn sáng. Cho nên ai muốn cầu giải thoát phải lấy thân làm đài, tâm là tim, các giới hạnh làm dầu, trí huệ tỏ suốt làm lửa. Thường thắp đèn Chơn chánh giác, chiếu phá tất cả vô minh ngu tối, hay dùng pháp nầy lần lượt khai thị lẫn nhau tức là một ngọn đèn mồi ra trăm ngàn ngọn; cứ như thế mãi mãi vô cùng, nên gọi là Vô Tận Đăng.
Xưa có Phật tên là Nhiên Đăng, ý nghĩa Nhiên Đăng là thế.
Chúng sanh ngu si chẳng rõ lối nói phương tiện của Như Lai, luống làm theo sự, đắm chấp việc hữu vi; bèn dùng các thứ đèn dầu thế gian đốt lên luống soi nhà trống, rồi bảo làm đúng theo kinh, há chẳng lầm lắm sao?
Vì sao thế? Vì Phật phóng một đạo hào quang trắng ở giữa hai chơn mày, có thể chiếu suốt mười tám ngàn cõi nước phương Đông, há đợi nhờ đèn dầu thế gian leo nheo như thế để làm lợi ích! Gẫm xét cái lý phải chẳng thế sao!
Lại nữa sáu thời hành đạo nghĩa là nói nơi sáu căn luôn luôn thực hành Phật đạo, tu các hạnh giác. Điều phục sáu căn, mãi mãi không hở, gọi là sáu thời. Còn quanh tháp hành đạo, chữ tháp nơi đây làm ám chỉ cho thân tâm đó! Nghĩa là thường sanh giác huệ tuần sát thân tâm luôn luôn chẳng hở, gọi là quanh tháp. Các bực Thánh đã qua đều nhờ thực hành cách ấy mà được Niết Bàn. Người đời nay chẳng rõ lý nầy, chẳng thực hành nơi tâm, chỉ chấp trở ra mà tìm, đem cái thân chướng ngại đi quanh tháp thế gian ngày đêm lũ lượt, luống uổng nhọc công, đối với Chơn tánh không chút lợi ích.
Còn nói ăn chay phải càng thêm để ý, nếu chẳng rõ lý nầy thì càng nhọc công vô ích. Chữ chay ở chữ Hán là chữ Trai, mà chữ Trai lại từ chữ Tề mà biến, nhưng chữ Tề cũng như nghĩa chữ Bình. Nghĩa là tề bình thân tâm, chẳng để tán loạn. Chữ ăn nơi đây cũng như nghĩa chữ giữ. Nghĩa là giữ các giới hạnh, đúng pháp tu hành. Ở ngoài phải ngăn ngừa sáu tình, ở trong phải chế ngự ba độc, siêng giác sát, tịnh thân tâm, biết rõ nghĩa nầy mới gọi là ăn chay.
Lại nữa, chữ ăn ở đây có năm nghĩa:
1. Một, ăn là vui với pháp, nghĩa là giữ y chánh pháp hoan hỷ vâng làm.

2. Hai, ăn là vui với Thiền định, nghĩa là trong ngoài lặng suốt, thân tâm vui đẹp.
3. Ba là ăn bằng suy nghĩ, nghĩa là thường nghĩ chư Phật lòng miệng như nhau.
4. Bốn là ăn bằng nguyện, nghĩa là đi đứng nằm ngồi thường cầu nguyện lành.
5. Năm là ăn bằng giải thoát, nghĩa là tâm thường thanh tịnh, chẳng nhiễm tục trần.
Năm nghĩa ăn nầy gọi là ăn chay. Nếu ai chẳng nhận năm nghĩa chay tịnh nầy mà tự hào là ăn chay đều là làm việc vô lý. Cần nhất phải dứt cho được cái ăn mê muội. Nếu phải va chạm gọi là phá trai. Nếu đã phá trai sao gọi là được phước? Đời có người mê chẳng rõ lý này, thân tâm phóng túng theo các nghiệp áctham dục buông tình, chẳng biết xấu hổ. Chỉ ăn được ba thứ rau cải rồi tự hào là ăn chay thì thật là phi lý.
Còn nói lễ lạy theo phép thì ở trong phải tỏ thông lý thể, ở ngoài thì tùy sự quyền thông. Lý có khi phải hiện, có khi phải ẩn. Biết được nghĩa như thế mới gọi là y theo pháp. Vả chăng, lễ nghĩa là kỉnh, lạy nghĩa là phục. Nghĩa là cung kỉnh chơn tánh, hàng phục vô minh; đó là lễ báiNếu có thể dứt trừ lòng ác, thiện niệm hằng giữ; tuy chẳng hiện tướng, nhưng đó mới thật là lễ lạy.
Tướng là pháp tướngThế Tôn muốn làm cho người đời tỏ lòng khiêm tốn cũng dạy lễ lạy. Nên ở trong khuất phục, ngoài hiện khiêm cung; nêu cái bên ngoài để rõ bên trong, tánh tướng như nhau. Nếu không căn cứ trên lý pháp, chỉ chấp tướng bề ngoài mà cầu, trong thì mở cửa ba độc, thường làm nghiệp ác, ngoài làm ra tướng ghê gớm, trá hiện oai nghi, chẳng khỏi luân hồi, há thành công đức?":  Trích Luận Phá Tướng

KINH BỒ ĐỀ ĐẠT MA QUÁN TÂM PHÁP(https://thuvienhoasen.org/a7659/bo-de-dat-ma-quan-tam-phap)

- Bài thơ số 44: "Bài thuốc dan gian Chữa phong thấp"


Sinh địa 20g, hà thủ ô 20g, cỏ xước 12g, cốt toái bổ 12g, vòi voi 10g, cốt khí 10g, phòng đẳng sâm 20g, huyết đằng 12g, hy thiêm 12g, bồ công anh 12g, thiên niên kiện 10g, dây đau xương 10g.
Sắc: 500ml nước đun nhỏ lửa, đậy kín ấm sắc đến khi ấm cạn còn khoảng 200ml thì ngừng sắc. Gạn nước ra chia đôi mỗi lần uống một nửa, uống nóng. Dùng 20 đến 25 ngày liên tục.

Công năng các vị:
Tiêu viêm, sát khuẩn... : Bồ công anh
Bổ máu, bổ tì...: Phòng đẳng sâm
Viêm khớp, bổ can...: Cây cỏ xước
Đau người tê thấp...: Dây đau xương
Khớp xương sưng nhức: Thiên niên kiện
Huyết thông, lợi mạch tim: Sinh địa
Lợi tiểu, giảm đau...: Rễ cốt khí
Nhức xương phong thấp...: Có hy thiêm

Bài thơ số 43: "Đậu - Vị thuốc"

Đại tiện ra máu lo gì
Đậu đen nấu chín ăn đi khỏi liền
Tiểu tiện ra máu thì nên
Đâu đen rang cháy nấu lên thay trà
Đậu đen nấu chút gừng nhà
Đầy hơi bụng chướng cũng là rất hay
Mùa hè trúng nắng bị say
Vỏ đậu xanh sắc uống ngay khỏi liền
Ngộ độc sắn cũng chớ quên
Đậu xanh cả vỏ, nấu lên rồi dùng
Những người tê phù, nặng chân
Đậu đỏ + cá chép (nửa cân) đêm hầm
Ăn thứ đó vài ba lần
Chân sẽ nhẹ hẳn, dần dần bớt tê
Chữa say rượu cũng hay ghê
Sắc nước đậu uống - vùng quê hay làm.

Bài thơ số 42: "Xoài"

Quả xoài kiện tì, trị ho
Viêm họng, khản tiếng thì lo ăn xoài
Khó tiêu hoặc bụng đầy hơi
Say xe chóng mặt ta thời nên ăn
Những người chảy máu chân răng
Muốn cho mau khỏi thì năng ăn xoài.
* Xoài, táo ngâm nước muối 15-20 phút rồi ăn cả vỏ
* Ăn táo hàng ngày, bác sĩ sẽ rời xa bạn (ngạn ngữ Phương Tây)

Bài thơ số 41: "Táo"

Ăn táo khí huyết điều hòa
Ho đàm, táo bón cũng là rất hay
Rối loạn tiêu hóa khỏi ngay
Suy nhược cơ thể hàng ngày nên ăn
Ăn táo đường huyết ít tăng
Mỡ máu lại giảm, mạch tim điều hòa.

Bài thơ số 39: "Táo bón"

 Táo bón cũng bệnh người già
Mỗi lần đại tiện thật là khổ thay
Nên ăn nhiều rau hàng ngày
Ngọn lang, cải củ, cải cay ăn nhiều
Thanh long, đu đủ, chuối tiêu
Bí đao, nho đỏ cũng đều cần ăn
Khoai lang, khoai tây rất cần
(Phòng trị táo bón nhân dân thường làm)
Cà phê, trà đặc chớ ham
Nếu ăn nhiều thịt lại càng bón thêm
Hãy uống nhiều nước chớ quên
Và hãy vận động thường xuyên - ít nằm
Đi tiêu đúng giờ rất cần
Thực hiện đầy đủ dần dần khỏi ngay.

- Bí Đao

Bài thơ số 38: "Bí đao"

Bí đa vị thuốc quý
Giúp tuổi thọ kéo dài
Chữa béo mập rất tốt
Chữa phù thận rất tài
Những người tiểu tiện khó
Ăn bí đao đỡ ngay
Bệnh tiểu đường cũng vậy
Ăn nó cũng rất hay
Chữa phù thũng cũng lành
(Nấm cùng hành + cá chép)
Trị xơ động mạch vành
Hay bệnh cao huyết áp
Bí đao rất dễ nấu
Canh tôm hay canh xương
Hoặc luộc lên rồi chấm
Rẻ tiền mà lại ngon.

Bí đao tính mát, không độc, vị ngọt, giàu dinh dưỡng, là loại thực phẩm rất quen thuộc trong những ngày hè.

Người ta đã biết đến công dụng thanh nhiệt giải độc, kiện kỳ, ích khí trừ phiền chỉ khát, lợi tiểu tiêu thũng của bí đao trong phòng chữa bệnh, nhưng ích lợi đối với sức khỏe của vỏ, hạt, lá và hoa bí đao thì còn ít được nhắc đến.

Vỏ bí đao: chứa nhiều vitamin và khoáng nên muốn ăn thì thu hái khi quả còn non, khoảng vào ngày thứ 30. Vỏ bí đao dùng làm thuốc chữa các bệnh sau: 

Bài 1: Ung nhọt ngoài da: vỏ bí đao 20g, hoa cúc vàng 15g, thược dược đỏ 12g, mật ong một ít. Nấu lấy nước uống thay trà, mỗi ngày 1 lần, dùng liên tiếp 7 ngày.

Bài 2 : Thanh nhiệt giải độc , dưỡng âm, cầm máu: vỏ bí đao, đậu đỏ, mỗi thứ lượng thích hợp. Sao sơ, đổ nước vào nấu uống thay trà. 


Bài 3 : Phong nhiệt, táo nhiệt, ho: vỏ bí đao 15g, mật ong một ít, chưng nóng ăn mỗi ngày 2 lần. 

Bài 4 : Viêm tuyến tiền liệt, tiểu nhiều lần: vỏ bí đao 50g, đậu tằm 60g, nước 3 bát. Cho tất cả nguyên liệu trên vào nồi, cùng với 3 bát nước, sắc còn 1 bát, bỏ bã dùng uống (nếu người bệnh dị ứng với đậu tằm thì không dùng bài thuốc này). 

Bài 5 : Phù khi có thai: Bí đao cả vỏ lượng tùy ý, muối vừa ăn. Nấu nhừ để ăn. Công hiệu kiện tỳ, hành thủy, an thai. Chủ trị phụ nữ bị phù thũng khi mang thai do tỳ hư thấp trở. 

Hạt bí đao:
Bài 1 : Thuốc trường thọ: Theo Lý Thạc đời Tống (Trung Quốc) ăn lâu dài hạt bí đao (đông qua nhân) bỏ vỏ có thể trường thọ. Hoặc bỏ hạt bí vào túi lụa, luộc sôi trong nước một giờ lấy ra phơi khô. Làm ba lần như vậy rồi ngâm vào dấm gạo một đêm, phơi khô, tán bột. Ngày uống một lần mỗi lần một thìa canh. 

Bài 2: Bạch đới: hạt bí đao lâu năm (trần đông qua nhân) rang nghiền bột uống 15g mỗi lần vào lúc đói. 


Bài 3: Ho gà, viêm phế quản cấp và mạn: hạt bí đao 15g trộn với đường phèn giã mịn nhào với mật ong uống với nước đun sôi để nguội. Ngày 2 - 3 lần. 

Bài 4: Viêm phổi, áp-xe phổi: hạt bí đao, bồ công anh, kim ngân hoa, ý dĩ sống, diếp cá mỗi thứ 40g; rễ lau 20g: hạt đào, cát cánh, cam thảo mỗi thứ 10g. Sắc uống. 

Bài 5: Tàn nhang: hạt bí đao 350g, hạt sen 30g, bạch chỉ 15g. Tất cả nghiền mịn. Hàng ngày uống sau bữa cơm. Chiêu bằng nước đun sôi để nguội. 

Bài 6: Có thai phù thũng do tỳ hư: hạt bí đao 20g, trần bì 6g, mật ong 50g. Nấu chín ăn ngày 2 lần, trong vài ba ngày. 

Lá bí đao: giã nát xào với dấm dùng bó chữa chín mé. 

Hoa bí đao : hãm trà uống giúp ổn định tinh thần, giải tỏa stress.

Bài thơ số 35: "Ý chí"

Hơn nửa buồng phổi phải cắt đi
Bằng cách luyện thở để giải nguy
Ý chí đã đẩy lùi bệnh tật
Trở thành chiến thắng, cụ vinh quy.
* Thông minh là thích nghi - muốn tồn tại và phát triển thì phải biết tự điều chỉnh và thích nghi. (Buffon)

Bài thơ số 37: "Hành"

Mỗi nhà có bụi hành ta
Để ăn làm thuốc thật là rất hay
Gia vị ngon miệng hàng ngày
Đau đầu, sổ mũi, thuốc đây: cháo hành!

Bài thơ số 36: "Cá diếc"

Cá diếc phòng bệnh người già
Động mạch xơ vữa chúng ta ăn phòng
Tiểu tiện bí sẽ khai thông
Ăn ngon, giảm mệt cho lòng thêm yêu
Phòng được nhồi máu cơ tim
Những người bụng báng, hãy nhớ nên dùng
Thanh nhiệt giải độc biết không
Món ăn bổ dưỡng cá đồng dễ mua
Các diếc kho tương, khế chua
Nhiều người sở thích rất ưa món này
Cá diếc + Vỏ quýt + hạt cay (hạt tiêu)
Rối loạn tiêu hóa hàng ngày nên ăn
Cá diếc + Đậu đỏ cũng cần
Cho người tiêu thũng dần dần bớt đau.


- Bài thơ số 34: "Phép màu trong một bài thơ"


Bác sỹ Nguyễn Khắc Viện, năm 27 tuổi bị lao phổi nặng phải cắt trọn lá phổi phải và một phần ba lá phổi trái, sức thở chỉ còn 1/3. Các bác sĩ cho biết chỉ có thể sống thêm vài năm nữa. Nhưng BS Nguyễn Khắc Viện đã sống thêm 58 năm, hưởng thọ 85 tuổi và để lại một di sản gồm nhiều tác phẩm về y học, văn chương...Phép màu của BS Viện được gói gọn trong một bài thơ, phương pháp thở bụng. Phương pháp thở đã tạo nên những điều kỳ bí lạ lùng, cứu sống BS Viện khỏi bàn tay tử thần 58 năm qua...(Nguyễn Bá Truyền - Báo Sức khỏe Đời sống).
Bài thơ
Thót bụng thở ra
Phình bụng thở vào
Hai vai bất động
Chân tay thả lỏng
Êm chậm sâu đều
Tập trung theo dõi
Luồng ra luồng vào
Bình thường qua mũi
Khi gấp qua mồm
Đứng ngồi hay nằm
Ở đâu cũng được
Lúc nào cũng được.

Chú heo ham ăn "thông minh"...



(Youtube).

Nhạc giúp giảm đau khi mổ

Nghe nhạc trong phòng mổ giúp bệnh nhân giảm bớt đau đớn


Ảnh minh họa. (Nguồn: telegraph.co.uk)


Nghe nhạc trước, trong và sau khi phẫu thuật sẽ làm giảm các cơn đau của bệnh nhân, giúp họ giảm bớt lo lắng cũng như làm giảm nhu cầu sử dụng thuốc giảm đau.


Đây là những công bố mới nhất của các nhà khoa học Anh sau khi thực hiện nghiên cứu thử nghiệm đối với khoảng 7.000 bệnh nhân.

Các nhà khoa học cho biết những bệnh nhân tiến hành phẫu thuật được gợi ý có thể lựa chọn thể loại âm nhạc họ muốn nghe trong quá trình điều trị.

- Nước tiểu & Dấu hiệu bệnh thận

Đoán bệnh qua nước tiểu

Bình thường nước tiểu có mùi khai, trong như nước suối hay hơi vàng. Khi nước tiểu có màu, mùi, vị khác lạ, đích thị cơ thể bạn có vấn đề. 

Hán Tự tiết lộ thiên cơ: Ai là phường cường bạo?

Hán tự là chữ viết của Trung Quốc, chữ Hán phồn thể bao hàm rất nhiều ý nghĩa sâu sắc. Chính bởi điều này mà những người chuyên nghiên cứu Hán tự có thể tiết lộ cho chúng ta rất nhiều thiên cơ, đôi khi khá bất ngờ.

Trung Quốc, thảm sát, thảm họa, cường bạo, Bài chọn lọc,
Giải Hán tự có thể giúp con người thấu hiển thiên cơ, biết tường tận chân tướng.

Văn hóa Trung Quốc truyền thống trước kia được cho là văn hóa thần truyền, tức là văn hóa được Thần truyền thụ. Trong những thứ được truyền thụ lại ấy có chữ viết. Người thời xưa còn dùng chữ Hán để tiên đoán sự việc xảy ra trong tương lai, kể cả những việc phát sinh ngày hôm nay. Có lẽ đây chính là sự an bài của Thần, để cảnh tỉnh con người trước những phát sinh trong xã hội, đừng vì hiện tượng mà mê mờ, không phân biệt được thị phi đen trắng.