- Tìm Nơi An Vui Hạnh Phúc

Diệt Ngã - Xả Tâm

Thắng lợi gây thù hận,
Thất bại chịu khổ đau,
Từ bỏ mọi thắng bại,
An tịnh liền theo sau.
(Kinh pháp cú)

Phật dạy La Hầu La cách tu tập và ứng xử
Nếu Tâm rộng lớn bao la vô lượng như nước, thì có thể tiếp nhận và chuyển hoá tất cả mọi bất công, oan ức...và những thứ ấy sẽ không thể làm cho con người đau khổ và buồn tủi.

Này La Hầu La, con hãy học cách hành xử của Đất:

Dù người ta có đổ hay rải lên đất những thứ tinh sạch và thơm tho như hương hoa, nước ngọt, sữa thơm...hoặc những thứ hôi hám và dơ dáy như máu mủ, nước tiểu phân rác.. thì đất cũng tiếp nhận những thứ ấy một cách rất thản nhiên, không vướng mắc, tự hào, cũng không oán hờn tủi nhục...

Tại sao?
Tại vì đất là địa đại có dung tích rộng lớn, có khả năng tiếp nhận và chuyển hoá. Nếu tâm con rộng lớn vô lượng như đất, thì con cũng có thể tiếp nhận và chuyển hoá tất cả mọi bất công, oan ức.. và những thứ ấy không thể làm cho con buồn tủi và khổ đau. (https://soundcloud.com/thichbaonguyen/quan-tam-nhu-dat?in=thichbaonguyen/sets/tri-kien-xa-tam-23)

Này La Hầu La, con hãy học cách ứng xử của Nước:

Dù người ta có đổ xuống nước những chất thơm tho đẹp đẽ..hoặc giặt rửa trong nước những thứ dơ bẩn, hôi hám...thì cũng không vì thế mà nước bị vương mắc, tự hào, hoặc cảm thấy oán hờn và tủi nhục....

Tại sao? Tại vì nước là thuỷ đại có dung tích rộng lớn, có khả năng lưu chuyển, có thể tiếp nhận và chuyển hoá tất cả những gì đã tiếp nhận. Nếu Tâm con rộng lớn bao la vô lượng như nước, thì con cũng có thể tiếp nhận và chuyển hoá tất cả mọi bất công, oan ức.. và những thứ ấy sẽ không thể làm cho con đau khổ và buồn tủi.

Ảnh minh họa

Này La Hầu La con hãy học cách cư xử của Gió:

Gió có thể tiếp nhận, thổi và di chuyển mọi mùi hương... dù thơm, dù thối mà không bị vướng mắc, tự hào, buồn khổ, hay tủi nhục...

Tại sao? Tại vì gió là phong đại có dung tích rộng lớn, có khả năng di động phi thường. Nếu Tâm con có khả năng chuyển hoá và di động, thì con cũng có thể tiếp nhận và chuyển hoá tất cả mọi bất công và oan ức..mà kẻ khác trút lên con và những thứ ấy không thể làm xáo trộn được sự bình an và hạnh phúc trong con.

Này La Hầu La, con hãy học cách hành xử của Lửa:

Lửa có thể tiếp nhận và đốt cháy mọi thứ, dù là những cái xấu dơ bẩn...lửa cũng không vì thế mà cảm thấy tủi nhục, buồn khổ, chán chường.

Tại sao? Tại vì lửa là hoả đại có dung tích rộng lớn, có khả năng thiêu đốt và chuyển hoá tất cả nhưng gì người ta đem tới. Nếu Tâm con không kỳ thị, không vướng mắc, con cũng có thể tiếp nhận và chuyển hoá tất cả mọi bất công, oan ức... và những thứ ấy sẽ không thể nào làm xáo trộn hạnh phúc và bình an trong con.
- Lời Phật dạy- Namo Buddhaya!

Tư duy về "diệt ngã xả tâm"
Nói đến 2 từ xả tâm thì dễ, nhưng khi bắt tay vào thì không biết từ đâu. Nhớ lại lời thầy Thích Thông Lạc thường nhắc câu: "Diệt ngã xả tâm". Tôi mới bừng tỉnh ra, thì ra thầy đã nhắc khéo cho chúng ta biết muốn xả tâm thì phải diệt ngã trước. Vậy diệt ngã như thế nào?

Diệt ngã là diệt cái bản ngã của mình, diệt cái tôi, diệt những cái mà mình thường dính mắc vào và tự cho là của mình,... 
Cụ thể hơn là:
1. Muốn diệt ngã trước tiên ta hãy tập diệt ý kiến của mình, sống nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng theo ý kiến, lời nói, việc làm, sự bố trí, sự xếp đặt, yêu cầu của người khác và hoàn cảnh môi trường chung quanh.
- Ý kiến: Chị A có ý kiến xây dựng giảng đường ở phía trước nhà bếp thì ta hãy nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng theo ý kiến của chị A.

- Lời nói: Chị A nói rằng không được đi vào khu B đó thì ta hãy nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng theo lời nói của chị A.

-Việc làm: Chị A nấu cho ăn món gì thì ăn món đó, không khen chê, góp ý, sống nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng theo những món do chị A nấu. Anh C quản lý tu viện như thế nào thì ta cứ nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng sống theo, không phán xét đúng sai, phải trái, rồi viết thơ góp ý phê bình hoặc đưa ra ý kiến phải nên quản lý như thế này, như thế nọ,...

- Sự bố trí:
Anh C bố trí chổ ở trong tu viện cho tôi ở chổ tối âm u, nhiều muỗi, thì tôi cũng vẫn phải nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng vào cách bố trí của anh C.

- Sự xếp đặt:
Anh C xếp đặt tôi chỉ nên quét dọn khu A và B thì tôi chỉ nên quét dọn khu A và B.

- Yêu cầu: Anh C yêu cầu tôi không nên nhổ cỏ xung quanh thất, không đi tới khu A thì tôi cũng nên nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng theo yêu cầu của anh C.

- Hoàn cảnh môi trường xung quanh:
Môi trường xung quanh có nhiều muỗi, tôi cũng phải sống nhẫn nhục tùy thuận và bằng lòng theo. Nếu tôi không sống nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng theo nghĩa là tôi còn lo cho cái thân, còn lo cho cái thân, nghĩa là còn ngã.

2. Diệt ngã còn gồm nhiều yếu tố sau:
- Không cần lo cho cái thân:
không lo lắng, sợ hãi bệnh tật, đau đớn, muỗi chích, côn trùng cắn,... 
VD: Do sợ muỗi cắn mà tôi đã viết lá thơ cho ban quản lý trình bày những cách làm giảm muỗi trong tu viện. Qua việc làm đó chứng minh tôi còn lo cho cái ngã, chưa có diệt ngã xả tâm, chưa biết sống nhẫn nhục tùy thuận và bằng lòng vào hoàn cảnh môi trường chung quanh.

- Không chạy theo những ham thích: ham thích vui chơi, thích đi đây đi đó, thích xem phim, ca nhạc, đọc tin tức, đọc sách, viết thơ, tìm bạn, vào internet,...

- Không vì cái thân mà giận bất kỳ ai: ai mắng chửi mình thì mình cũng im lặng, ai nạt nộ mình, nói những lời nói không ái ngữ mình cũng không giận,... Ai đánh mình, đâm mình, giết mình mình cũng không giận mà ngược lại còn thấy họ đang thương mình (ông Phú Lâu Na)

- Không thỏa mãn dục vọng cho cái thân: chạy theo ăn, uống, ngủ, nghỉ, quyền cao, chức vọng, tiền bạc, lợi lạc, sắc dục, mua sắm,…

- Không sống trong ác pháp:
tham sân si mạn nghi.

- Không nói những điều ác, nói cái sai, cái lỗi, cái xấu của người, nói ly gián, nói thêu dệt, nói chuyện linh tinh, bàn chuyện thiên hạ, xã hội, chính trị kinh tế,...


- Không vì lợi ích cho bản thân mà làm điều ác:
nói dối gạt người để buôn bán có nhiều lời hơn; bán hàng kém chất lượng, nói rằng hàng chất lượng cao; làm công trình xây dựng cầu thì ăn chia, giảm bớt nguyên vật liệu, xử dụng nguyên vật liệu không đúng so với thiết kế,...

- Không khoe khoang kiêu mạn, ngã mạn: chấp vào sự hiểu biết, tri kiến, tài sản, danh lợi,... là của mình, nghĩ mình tài giỏi, mình thông thạo, mình giàu có, mình thông minh, mình làm chức vụ cao, mình học sâu hiểu rộng, mình có tri kiến giải thoát, mình có bằng cấp cao, mình đẹp, mình ăn nói trôi chảy lưu loát,... rồi so sánh với người khác, thấy mình hơn người khác, thích giảng thuyết, viết sách, viết bài, muốn dạy người khác, thích tranh luận hơn thua, luôn thấy cái sai, cái lỗi, cái xấu của người. khác,...VD: khi tôi góp ý xây dựng ban quản lý, là tôi đã thấy cái sai của họ hoặc do tôi thấy cách quản lý của tôi hay hơn, do đó tâm tôi đang kiêu mạn.

3. Không chấp vào bất kỳ vật gì, tài sản, của cải, tiền bạc, nhà cửa, chùa, tu viện, xe cộ,... cho đến vật nhỏ như cây kim là của mình. 
Không vì chúng mà lo lắng, bất an, lo lắng bảo vệ, giữ gìn, sợ hãi, sợ người khác cướp quyền, sợ người khác cướp của cải và tài sản, nghi ngờ người khác có ý chiếm đoạt, có âm mưu xấu, muốn hại mình, vì chúng mà thưa kiện, kiện tụng, tranh giành, chỉ trích, nói xấu, chê bai, bộc lộ đầy đủ 5 đức tính: tham sân si mạn nghi.

VD: 1- Còn giữ tiền bạc là còn lo cho cái ngã. 2- Có nhiều người suốt cuộc đời họ đã dành bao công sức, mồ hôi, thời gian, nổ lực, trí óc, thăng trầm, thành bại, vui buồn.... tạo dựng sự nghiệp, nhà ở, phương tiện, cơ sở kinh doanh, chùa, tu viện,... Do những yếu tố trên mà họ bị dính mắc vào của cải tài sản, xem nó là của mình, không muốn ai chiếm đoạt, sẵn sàng vì chúng mà tranh đấu, giữ gìn và bảo vệ. Người quân tử "nhấc lên được thì buông xuống được". Sự thành bại, có mất, vui buồn trong cuộc sống này đều là nhân quả, có cái gì là của ta đâu mà dính mắc, cố chấp xem là của mình để rồi phải lo lắng cho chúng.

4. Diệt ngã thì không nên nhận xét, đánh giá, phán xét bất kỳ ai.
Mình là ai mà phán xét người khác, phán xét, nhận xét, đánh giá cho ai đây. Ai làm gì mặc kệ họ, tại sao ta lại chấp vào những hiểu biết, tri kiến là của mình rồi phán xét người khác đúng sai phải trái. ai làm gì mặc kệ họ. VD: Người hiểu biết chánh pháp, có tri kiến thì phán xét người khác tu sai, tu sai pháp môn, là ngoại đạo, là tà đạo, lời giảng của người khác đúng sai. Người có hiểu biết về đời thì xem thường trẻ em, người nhỏ tuổi hơn. Người đọc sách lý luận chính trị nhiều thì nhận xét, phán xét người khác không biết làm chính trị, không biết lảnh đạo,...

5. Diệt ngã xả tâm thì không dính mắc vào lời nói, sự nhận xét, phán xét và việc làm của người khác liên quan đến mình.
Ai nói gì, làm gì mặc kệ họ. Nhân quả của ai người đó lo, cớ sao ta lại dính mắc vào sự nhận xét, phán xét của người khác về mình. Có phải ta còn coi trọng cái ta, chấp vào cái thân này là của ta, do vậy mới còn hơn thua với đời. VD: thấy ai nói mình ngu, mình dốt, mình sai, mình còn ác, mình còn tham, còn sân, còn kiêu mạn, còn nghi ngờ, chưa có lòng yêu thương từ bi, là Đề Bà Đạt Đa, là quỷ sứ, là ác ôn, là lưu manh, là kẻ lừa gạt, là kẻ ham danh lợi, là kẻ háo sắc, là kẻ tham ăn tham ngủ,... thì liền nổi nóng, hùng hổ, muốn tranh cãi với họ, rồi động tay động chân, tìm cách đối phó nhau, thưa kiện nhau,...

6. Diệt ngã xả tâm thì không tranh đấu, tranh giành, tranh cãi, tranh luận, tranh quyền, tranh lợi với bất kỳ ai. 
Tranh cho ai, đâu có gì là ta, là của ta, là bản ngã của ta đâu mà tranh. Ai muốn làm trụ trì, muốn quản lý, muốn chùa, muốn tu viện, muốn nhà cửa, muốn tài sản, muốn quyền lợi, ta nhường cho người đó hết. Ai muốn nói gì, có ý kiến gì, làm gì, cứ để họ làm theo ý họ, tranh cãi, tranh luận hơn thua đúng sai phải trái để làm gì, cho ai? Còn có cho ai là còn ngã.

7. Diệt ngã xả tâm.
Chúng ta không cần để ý đến những lời nói khen, hoan nghênh, cổ vũ của người khác, không cần thích ai khen, không cần thích ai biết mình, không cần thích ai chú ý đến mình, không cần danh tiếng, không cần quảng cáo, không cần làm bất kỳ chức vụ gì để người khác biết mình, không cần phải thuyết giảng, thuyết trình trước đám đông, viết bài, viết sách, viết báo, viết thơ để mọi người biết mình, không khoe khoang bằng cấp, học vị, học trò của vị nổi tiếng nào, thân quen với vị nổi tiếng nào, không bao giờ để lại tên tuổi ở bất cứ nơi nào và không cần ai biết mình là ai.

8. Diệt ngã thì dù đi đến đâu, vào chùa hay tu viện không nên đòi hỏi.
Ai cho cái gì thì lấy cái đó, ai cho ăn cái gì thì ăn cái đó, không xin thêm, không tích trữ, không phàn nàn, không chê bai. Tu mà còn đòi hỏi thì còn gì gọi là tu, về nhà mà đòi hỏi.

9. V.v...
Muốn diệt ngã không phải là dễ, còn dính mắc vào bất kỳ chuyện gì, vào ai, vật gì, môi trường hoàn cảnh, lời nói, việc làm, tri kiến, sự hiểu biết, của cải, tài sản... thì còn lo cho cái ngã, còn cung phụng cho cái ngã, còn sợ cái ngã bị thiệt thòi, thua kém, thiếu thốn, đói, yếu, bệnh tật, chết,...

Do vậy, phải thường xuyên quán xét từng tâm niệm, xem chúng có phục vụ cái ngã, lo cho cái ngã hay không? Nếu có thì nên mạnh dạn dứt khoát tác ý đuổi chúng đi, có như vậy thì ta mới sống không còn làm khổ mình, khổ người và khổ cả hai.

QUÁN TỨ ĐẠI KHI HÀNH THIỀN ĐẠI NIỆM XỨ

VĂN:

Tôi nghe như vầy:
Một thuở Đức Thế Tôn ở tại xứ Kuru.
Xứ này có một thị trấn tên là Kamma-sadamma. Tại đó, Đức Phật đã dạy các Thầy Tỳ Khưu như vầy:
Này các thầy tỳ khưu”.
Và các Thầy Tỳ Khưu thưa:
Xin vâng, Bạch Thế Tôn”.

Và Đức Thế Tôn đã nói như sau:
“Đây là con đường duy nhất để thanh lọc (tâm) chúng sanh, chấm dứt lo âu phiền muộn, uất ức than khóc, diệt khổ thân và khổ tâm, đạt Thánh Đạo và Giác Ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ.” … “Lại nữa, này các thầy tỳ khưu. Tỳ khưu quán sát chính thân thể này về phần Tứ Đại: trong thân này có Địa Đại, Thủy Đại, Hỏa Đại, Phong Đại. Như một người đồ tể thiện nghệ hay học trò của người này giết một con bò và xẻ ra nhiều phần, ngồi ở ngã tư đường.
Cũng vậy, này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu quán sát chính thân thể này về phần Tứ Đại: trong thân này có: Địa Đại, Thủy Đại, Hỏa Đại, Phong Đại. Như thế, tỳ khưu quán sát thân trên nội thân, hay tỳ khưu quán sát thân trên ngoại thân, hay tỳ khưu quán sát cả hai thân trên nội thân và ngoại thân. Không chấp vào bất cứ một điều gì trên đời do ngũ uẩn tạo thành này.”

LUẬN GIẢI:

Nếu hành thiền quán Tứ Đại Chủng. Nhìn tích cực, chú tâm quán sát Tứ Đại: tự đắm mình trong chổ trống không, và loại bỏ mọi ý niệm về một chúng sanh.
Vì vậy không chấp giữ ý niệm sai lầm về dã thú, ma quỷ, chằng tinh; bởi đã loại bỏ mọi ý niệm về một chúng sinh. Nên đã chế ngự được nỗi lo lắng, sự sợ hãi, và chinh phục được tham ái và sân hận, không phấn khích hay nản lòng trước mọi sự vật vừa ý hay không vừa ý. Và là người hiểu biết sâu xa nên sẽ đi vào chốn bất tử, hay đi đến nơi hạnh phúc an vui.
Thiền Minh Sát không dẫn đến sự chứng đắc như các tầng thiền vắng lặng mà chỉ đưa đến Cận định, Giác ngộ và Niết bàn, Chấm dứt vòng tái sanh.

Đức Phật dạy các Pháp Hành cho chư vị Tỳ Kheo tại Xứ Ku Ru, trong thị trấn tên là Kamma-sadamma, thị trấn này do ông vua hay ăn thịt người Kamma-sapada (chân có đốm), được cảm hóa trở thành vị vua lương thiện; và dân Kuru có truyền thống thực hành giáo pháp một cách tốt đẹp.


Tại đó, Đức Phật đã dạy các thầy tỳ khưu như vầy:
Này các thầy tỳ khưu
Và các thầy tỳ khưu thưa:
“Xin vâng. Bạch Đức Thế Tôn

Đức Phật thường gọi các Tu Sĩ là Bhikkhu (tỳ khưu).
Bhikkhu là những người cao thượng, sống đời sống phạm hạnh và thực hành giáo pháp.
Nhưng khi dùng chữ Bhikkhu, không có nghĩa là Đức Thế Tôn không nói đến thiện nam tín nữ. Bất cứ ai chấp nhận và thực hành những lời dạy của Đức Phật đều được gọi là Bhikkhu.
Bởi vậy, khi Đức Phật nói: “Này các thầy tỳ khưu” thì phải được hiểu là kể cả nam nữ cư sĩ tại gia và tăng ni trong tăng đoàn đang thực hiện chân lý tối thượng.

Và Đức Thế Tôn đã nói như sau:
“Đây là con đường duy nhất để thanh lọc (tâm) chúng sanh, chấm dứt lo âu phiền muộn, uất ức than khóc, diệt khổ thân và khổ tâm, đạt Thánh Đạo và Giác Ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ.” …  “Lại nữa, này các thầy tỳ khưu. Tỳ khưu quán sát chính thân thể này về phần Tứ Đại: trong thân này có Địa Đại, Thủy Đại, Hỏa Đại, Phong Đại.  Như một người đồ tể thiện nghệ hay học trò của người này giết một con bò và xẻ ra nhiều phần, ngồi ở ngã tư đường. Cũng vậy, này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu quán sát chính thân thể này về phần Tứ Đại: trong thân này có: Địa Đại, Thủy Đại, Hỏa Đại, Phong Đại.
Như thế, tỳ khưu quán sát thân trên nội thân, hay tỳ khưu quán sát thân trên ngoại thân, hay tỳ khưu quán sát cả hai thân trên nội thân và ngoại thân. Không chấp vào bất cứ một điều gì trên đời do ngũ uẩn tạo thành này.”

Mục này của Kinh Tứ Niệm Xứ nói đến Tứ Đại và Cách hành thiền sinh quán sát Tứ Đại trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi.

Thiền sinh phải quán sát cơ thể mình dưới khía cạnh Tứ Đại.

Theo truyền thống, có Bốn Đại: Địa Đại, Thủy Đại, Hỏa Đại, và Phong Đại.
Hành thiền bằng cách quán sát Tứ Đại chỉ được đề cập vắn tắt trong Kinh Đại Niệm Xứ này, và được trình bày ngắn gọn, vì phần này chỉ dành cho thiền sinh có sự hiểu biết mau lẹ, có trí tuệ nhạy bén.
Còn về các Kinh như Màhàhatthipadopama Sutta, Ràhulovàda Sutta và Dhàtuvibhanga Sutta, trình bày cách hành thiền quán sát Tứ Đại với đầy đủ chi tiết. Những kinh này dành cho những người có trí tuệ ít nhạy bén hơn.

Mỗi khi Đức Phật thuyết pháp, Ngài thường xét xem người nghe có thích hay không, và Tâm họ thuần thục chưa. Sau khi đã xem xét như vậy, Đức Phật thuyết pháp theo trình độ của người nghe. Bởi vậy, có những bài kinh Ngài đề cập đến nhiều chi tiết và giảng giải rộng, có những bài kinh Ngài chỉ nói ngắn gọn.
Trong Kinh Đại Niệm Xứ này, Ngài chỉ trình bày vắn tắt đề mục Quán Sát Tứ Đại.
Mục đích của thiền quán sát Tứ Đại, là để loại bỏ khái niệm về một chúng sinh, cho rằng ta là người là chúng sanh.
Tứ Đại được tìm thấy trong tất cả sinh vật, cây cối và vật vô tri vô giác.
Muốn loại bỏ khái niệm có một chúng sanh, thiền sinh cần phải hành thiền Quán Sát Tứ Đại bằng cách chia chẻ thân thể này ra làm bốn thành phần và quán sát riêng biệt từng thành phần một. Mỗi thành phần như vậy gọi là Một Đại.

1. Địa Đại:

Địa đại không có nghĩa là Đất như chúng ta thường biết, mà là những gì có bên trong Đất cũng như trong các Vật Khác.
“Tính Chất Cứng Mềm” đó là đặc tính của Địa đại.
Đưa tay vào nước bạn cảm thấy mềm. Sự mềm mại này là Địa đại. Bạn tìm thấy Địa đại khắp mọi nơi.
Công năng của Địa đại là làm nền tảng để những vật khác có thể đặt lên đấy.
Đối với thiền sinh hành thiền minh sát về đề mục Địa đại, thì sự biểu hiện của Địa Đại là thâu nhận hay chấp nhận.
Bởi vậy, các bạn phải hiểu Địa đại theo đặc tính, công năng sự thể hiện của nó.
Tóm lại, đặc tính của Địa đại là Cứng, Mềm. Công năng của Địa đại là Làm Nền Tảng. Và sự biểu hiện của Địa đại là Sự Thâu Nhận hay Chấp Nhận vật gì.

2. Thủy Đại:

Thủy đại ở đây không có nghĩa là Nước như chúng ta thường biết. Thủy đại có đặc tính “chảy giọt xuống”, “dính hút”, “kết hợp” hay “lỏng”. Thủy đại có mặt trong mọi vật có sự kết hợp, hay trong đất, trong gỗ, trong gạch đá, …
Sự kết hợp hay Sự dính hút làm cho vật liên kết lại với nhau là đặc tính của Thủy đại.
Công năng của Thủy đại là “làm cho mạnh lên”. Thủy đại làm cho mạnh lên những gì tiếp xúc với nó.
Sự biểu hiện của Thủy đại trong thiên nhiên là “kết hợp vật chất lại với nhau”. Khi chế nước vào bột chẳng hạn, thì ta thấy cục bột dẻo. Nước đã kết dính bột lại với nhau. Sự kết dính lại với nhau là sự biểu hiện của Thủy đại.
Khi hành thiền thỉnh thoảng sự biểu hiện này sẽ đến với bạn. Bạn sẽ thấy hay hiểu Thủy đại đôi khi qua đặc tính, đôi khi qua công năng, và đôi khi qua sự biểu hiện.
Tóm lại, đặc tính của Thủy đại là “Sự Kết Hợp” hay “Sự Dính Hút”. Công năng của Thủy đại là “Làm Cho Mạnh Lên”. Biểu hiện Thủy đại là “Kết Hợp Vật Chất Lại Với Nhau”.

3. Hỏa Đại:

Đây không phải là Lửa hiểu theo nghĩa thông thường, nhưng là trạng thái của lửa, tính chất của lửa, như sức nóng chẳng hạn. Sức nóng hay lửa làm cho vật “chín mùi, trưởng thành, hay già nua”. Nói nóng, ta cũng bao gồm cả lạnh. “Nóng”, “Lạnh” hay “Nhiệt Độ” là đặc tính của Hỏa đại.
Khi bạn cảm thấy nóng hay lạnh là bạn đang cảm giác được Hỏa đại. Và khi cơ thể trưởng thành hay già nua, đó là tác dụng của Hỏa đại.
Công năng của Hỏa đại là làm cho vật “trưởng thành”, làm cho vật “nóng” hay “lạnh”.
Sự biểu hiện của Hỏa đại là “tiếp tục cung cấp cho sự mềm dẻo”. Chẳng hạn như bạn đang nấu vật gì thì vật được nấu sẽ mềm. Cũng vậy, sức nóng trong cơ thể làm cho cơ thể bạn dẻo, do đó cơ thể bạn già nua dần.
Tóm lại, đặc tính của Hỏa đại là “Nóng, Lạnh, hay Nhiệt Độ”. Công năng của Hỏa đại là “Làm Cho Vật Nóng hay Lạnh”. Biểu hiện của Hỏa đại là “Tiếp tục cho sự mềm dẻo”.
Có bốn loại Lửa:

  • Nhiệt độ cơ thể làm cho cơ thể nóng, hay bạn đau thì thân nhiệt gia tăng.
  • Lửa làm cho cơ thể bạn trưởng thành già nua.
  • Lửa làm cho người hay vật nóng lên, đó là sức nóng quá độ. Khi bạn cảm cúm, cơ thể bạn rất nóng, đó là sức nóng quá độ.
  • Lửa tiêu hóa thức ăn, nhờ lửa này mà bốn loại thực phẩm: ăn, uống, nhai, mút được tiêu hóa. Khi bạn có lửa tiêu hóa tốt hay lửa dạ dày tốt, thì cơ thể có thể tiêu hóa tất cả những gì bạn ăn. Khi bạn không có lửa tiêu hóa tốt, thì bao tử của bạn gặp rắc rối.

4. Phong Đại:

Đặc tính của Phong đại là “bành trướng, dãn nở, hay làm phồng lên”. Khi thổi hơi vào một quả bóng, quả bóng phồng lên. Phong đại cũng làm cho bạn đứng hay ngồi thẳng không bị cong xuống. Đó là sự “nâng đỡ của gió đến từ mọi phía”.
Công năng của gió là “tạo ra sự di động”. Khi bạn di chuyển thì sự di chuyển của bạn là do Phong đại gây ra.
Sự biểu hiện của Phong đại là “sự vận chuyển”.
Tóm lại, đặc tính của Phong đại là “Bành Trướng, Dãn Nở, hay Làm Phồng Lên và Nâng Đỡ”. Công năng của của gió là “Tạo Ra Sự Di Động”. Biểu hiện của Phong đại là “Sự Vận Chuyển”.

Có sáu loại gió:

  • Gió hướng lên làm bạn nấc cụt hay nôn mửa.
  • Gió hướng xuống tống phân hay nước tiểu ra ngoài.
  • Gió trong bụng ngoài ruột.
  • Gió trong ruột.
  • Gió chạy trong khắp tứ chi trong thân.
  • Gió hơi thở ra ngoài.

Khi bạn đi hoặc co duỗi thì Phong đại làm việc. Phong đại được gây ra bởi Tâm hay Ý muốn của bạn.


Bây giờ hãy tìm cách quán sát Tứ Đại trong khi đi.
Khi đi, trước tiên bạn giở chân lên. Lúc giở chân lên bạn thấy nhẹ. Sự nhẹ này được gây ra bởi Hỏa đại.
Khi giở chân lên có sự chuyển động. Sự chuyển động do Phong đại gây ra.
Khi đưa chân bước về phía trước, sự chuyển động cũng do Phong đại gây ra.
Khi hạ chân xuống, bạn thấy chân nặng, sự nặng này do sự có của Thủy đại.
Khi chân chạm đất hay chạm nền nhà, bạn cảm thấy sự cứng hay mềm của cả nền nhà lẫn chân bạn. Sự cứng mềm này là đặc tính của Địa đại.
Chỉ trong một bước đi bạn có thể phân biệt biết được Bốn Đại. Khi giở chân lên thì Hỏa đại và Phong đại trội hơn cả. Khi đưa chân bước về phía trước bạn nhận ra Phong đại. Khi đặt chân xuống bạn thấy được Thủy đại. Khi chân đạp lên đất bạn cảm thấy được Địa đại.
Như vậy là thiền sinh đã quán sát được cả Bốn Đại trong một bước đi, mặc dầu thoạt đầu thiền sinh không ghi nhận được sự hiện diện của tất cả Bốn Đại.
Khi thiền sinh thấy các Đại một cách rõ ràng thì ý niệm về một chúng sanh biến mất. Lúc này, thiền sinh thấy rằng chỉ có Bốn Đại mà thôi. Bốn Đại đang đi, Bốn Đại đang đứng, v.v… Khi chỉ thấy Tứ Đại đi, đứng, nằm, ngồi thì bạn sẽ không thấy có một con người đang làm tác động này; như vậy ý niệm về một chúng sanh biến mất.

Sự quán sát Tứ Đại được giảng giải trong kinh này bằng một ví dụ và chú giải đã giải thích như sau:
Khi người đồ tể nuôi một con bò, đem nó đến chổ giết thịt, cột bò vào một cột cây rồi giết bò, thì người đồ tể vẫn còn ý niệm về một con bò, một chúng sanh. Nếu có ai hỏi ông ta đang làm gì, thì đồ tể sẽ nói: “tôi cho bò ăn” hay “tôi đang giết bò”.
Ngay cả sau khi giết bò, trước khi xẻ thịt và cắt ra từng miếng, ông ta vẫn còn duy trì ý niệm rằng đó là một con bò. Nhưng sau khi xẻ bò ra, cắt thành từng miếng nhỏ và đặt lên bàn để bán, thì người đồ tể mất hẳn ý niệm về một con bò. Nếu có ai hỏi ông ta bán gì, ông ta không thể nào trả lời “tôi bán bò”, ông ta sẽ trả lời là “tôi bán thịt bò”. Như vậy sau khi đã cắt bò ra từng miếng, người đồ tể đã mất hẳn ý niệm về một con bò.
Tương tự như vậy, khi thiền sinh cắt mình ra thành Bốn Đại – tất cả những gì trên cơ thể thiền sinh cũng chỉ là Bốn Đại – như vậy là thiền sinh sẽ mất ý niệm về một thiền sinh, một con người.

Đức Phật dạy cách hành thiền để loại bỏ ý niệm “có một chúng sinh”.
Ví dụ trên đây không thể đưa đến kết luận rằng thiền sinh phải ý niệm hóa Tứ Đại.

Tứ Đại Đức Phật dạy không phải là ý niệm chế định, mà là một phần của chân lý tuyệt đối hay “Chân Đế” gồm Tâm, Tâm Sở, Sắc Pháp và Niết Bàn. Đây là “Chân Đế”, khác với “Tục Đế”. 

Thiền sinh phải “Thấy” Tứ Đại qua việc hành thiền của mình. Thiền sinh sẽ gặt hái được nhiều lợi ích qua cách hành thiền này.

Khi bạn quán sát Tứ Đại trên thân thể của mình thì bạn đã quán sát thân trên nội thân; khi bạn bỗng nhiên suy nghĩ đến Tứ Đại trên thân thể người khác thì bạn đã quán sát thân trên ngoại thân. Khi bạn quán sát Tứ Đại trên chính thân mình rồi quán sát Tứ Đại trên thân người khác thì bạn đã quán sát cả hai, thân trên nội thân và thân trên ngoại thân.
Khi bạn thấy rằng chỉ có Tứ Đại mà chẳng có người hay chúng sanh gì cả thì bạn không dính mắc, luyến ái vào bất cứ mọi thứ gì trên cõi đời. Như vậy là bạn đã: Không chấp trước vào bất cứ một điều gì trên cõi đời do ngũ uẩn tạo thành này.
Khi không luyến ái, dính mắc thì không còn tạo ra nghiệp. Khi không có nghiệp thì sẽ không có bám víu vào đời sống và thọ thân sau, và không có tái sanh. Lúc ấy bạn sẽ đạt đến chổ chấm dứt vòng luân hồi tái sinh.

Trích dẫn :       Kinh Đại Niệm Xứ
                          Thiền Sư U SILANANDA
Dịch giả:      Tỳ Kheo Khánh Hỷ
                     (Aggasami Trần Minh Tài)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét